Ngải cứu

ngai cuu Ngải cứu

Tên khác:

Ngải diệp.

Tên khoa học:

Artemisia vulgaris L., họ Cúc (Asteraceae).
Mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta và nước khác.

Bộ phận dùng:

Lá có lẫn ít cành non (Folium Artemisiae); Lá phơi khô, tán nhỏ rây lấy phần lông trắng và tơi gọi là Ngải nhung thường làm mồi cứu.

Thành phần hoá học chính:

Tình dầu, flavonoid.

Công dụng:

Điều kinh, an thai, chữa lỵ, thổ huyết, máu cam, băng huyết, lậu huyết, bạch đới, đau dây thần kinh. Lá khô dùng làm mồi cứu trên các huyệt.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 6-12g, sắc hoặc hãm, chia làm 3 lần uống. Uống vào tuần lễ trước khi có kinh. Có thể dùng dạng bột, ngày dùng 5-10g.
Lá sao nóng chườm vào chỗ đau do ứ huyết, chấn thương.

Chú ý:

Các địa phương vùng núi có loài Ngải dại (Artemisia vulgaris L. var. indica (Willd) DC.) có thể dùng thay Ngải cứu.

Ý kiến của bạn

*